Nghệ thuật thơ ca trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Ninh

0
24

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những tín ngưỡng dân gian lâu đời nhất của người Việt, tôn thờ các vị thần nữ được coi là mẹ cai quản các cõi trời, đất, sông nước, rừng núi. Với sự phát triển vô cùng sinh động và phong phú tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Ninh hiện nay trong dòng chảy đương đại, có nhiều góc nhìn cùng nhiều quan điểm khác nhau về truyền thống tín ngưỡng thờ Mẫu. Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu này được thể hiện rõ nét qua các nghi lễ hầu đồng, lên đồng. Trong đó, nghệ thuật thơ và ca của hát văn trong các khóa lễ, giá đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Hát văn không chỉ là phương tiện truyền tải mà còn là linh hồn của các nghi lễ, góp phần tạo nên sự thiêng liêng, huyền bí và sức hút đặc biệt cho việc thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu.

Hoạt động tín ngưỡng thờ Mẫu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh hôm nay là vùng đất Kinh Bắc từ xưa bao gồm Bắc Ninh và Bắc Giang, không chỉ nổi tiếng với những di sản văn hóa phong phú mà còn là cái nôi của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ. Cho đến hôm nay, với sự tiếp biến văn hóa và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu trong sự dung hợp giữa các dân tộc thiểu số của địa phương, Bắc Ninh đã có hệ thống thờ Mẫu phong phú.

Nhiều di tích trong tỉnh có thờ Mẫu như tại trung tâm Bắc Ninh với đền thờ Bà Chúa Kho, ở Viêm Xá có đền thờ nhị vị công chúa Ngọc Dung và Thủy Tiên, đền thờ đức Vua Bà Nhữ Nương Nam Hải – Thủy tổ Quan họ, đền Quan Thanh Sơn thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh;  Gia Bình với trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu là đền Tam Phủ;  Thuận Thành là hệ thống các ngôi chùa thờ Tứ Pháp vùng Dâu – Luy Lâu; Từ Sơn có các di tích thờ Lý triều Thánh Mẫu Phạm Thị Ngà; cùng đó là  thờ các nữ anh hùng như Hai Bà Trưng, Bà Tấm (Nguyên Phi Ỷ Lan)…

Ở vùng miền cao (Bắc Giang cũ) thì tín ngưỡng thờ Mẫu nổi bật có đền Nguyệt Hồ (Yên Thế), đền Suối Mỡ (Lục Nam) đều có thờ tam phủ, tứ phủ, những năm gần đây có Đền bà Chúa Then (hát then của đồng bào dân tộc thiểu số)… Bên cạnh đó hệ thống thờ Mẫu đều phối thờ trong một ngôi đền, phủ và chùa. 

Đến nay, Bắc Ninh không chỉ bảo tồn nghệ thuật hát văn một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu được thực hành rộng rãi trong các di tích đền, phủ và cả các điện thờ tư gia mà còn tổ chức thường niên các liên hoan hát văn, hát chầu văn để các nghệ nhân, thanh đồng và những người yêu thích loại hình nghệ thuật này có cơ hội giao lưu, biểu diễn. Địa điểm điển hình diễn ra liên hoan hát văn, diễn xướng hầu đồng thường được cấp chính quyền tổ chức tại Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ.

Từ khi UNESCO đã công nhận Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, thì việc tổ chức hát văn hầu đồng có quy mô bài bản từ của cấp chính quyền đã giúp người dân hiểu được ranh giới của hưởng thụ nghệ thuật, của thực hành tâm linh và phân định được sự u mê trong cõi hư không.

Hát văn là hoạt động thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Ninh có những lớp nang về đặc điểm, nghi thức, cách thức thực hiện có quy chuẩn riêng như bao nghệ thuật hát dân ca khác của dân tộc. Chính vì có những niêm luật, quy định riêng trong lối hát, nội dung mà hát văn mang những giá trị nghệ thuật thơ ca rất đặc sắc.

Nghệ thuật của thơ ca trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Ninh

Các làn điệu hát văn rất đa dạng, từ những điệu trang trọng, hùng tráng đến những điệu mềm mại, trữ tình, phù hợp với từng giá đồng và tính cách của vị thần giáng.

Hát văn (Chầu văn) là thể loại chính và đặc trưng nhất sử dụng thơ ca thờ Mẫu. Hát văn là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời ca, giai điệu, tiết tấu và thường được biểu diễn bởi một hoặc nhiều cung văn, cùng với các nhạc cụ truyền thống như đàn nguyệt, trống, sáo, nhị, phách.

Lời hát là những bài văn vần thuộc thể lục bát, song thất lục bát, đường luật, ngũ ngôn,… do dân gian đặt ra, truyền miệng qua nhiều đời hầu như không có tác giả. Điệu hát văn rất phong phú, những con số thống kê ở mỗi tài liệu nghiên cứu  có lúc chia thành 14 điệu, có lúc chia thành 30 điệu với những điệu được đặt tên “chuyên biệt” như điệu bỉ, miễu, thống, phú, dọc, kiều dương, cờn, xá, hãm,… Một số điệu trong hát chèo, hát ví ruộng đồng, cò lả,… hay một số làn điệu như lưu thủy, hành vân, kim tiền. Có lúc còn ngâm thơ theo lối cổ, được sử dụng linh hoạt theo từng giá đồng, thanh đồng,…

Nội dung các bài hát văn thường là tả phong cảnh các miền thánh cai quản, kể chuyện về các thánh, tả hình dáng, hành động, tâm lý, tính cách của thánh,…như Chầu ông Hoàng Mười, Chầu bà chúa Thác Bờ, Bà chúa Sơn Trang, bà chúa Thượng ngàn…

Thơ ca trong thờ Mẫu ở Bắc Ninh mang những đặc trưng riêng biệt, phản ánh rõ nét văn hóa và tâm linh của vùng đất Kinh Bắc. Hầu hết các bài thơ ca được lưu truyền qua nhiều thế hệ bằng hình thức truyền miệng, được biến tấu và sáng tạo thêm qua thời gian. Lời thơ thường sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, so sánh, mang đậm tính ước lệ của văn học dân gian. Ngôn ngữ thường gần gũi với đời sống, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người.  Âm nhạc là hồn cốt, là động lực để lời ca được cất lên, còn vũ điệu là sự minh họa, là biểu hiện của lời ca.

Trong các buổi hầu đồng, cung văn (người hát chầu văn) thường có khả năng ứng tác lời ca theo diễn biến của buổi lễ, theo cảm xúc của Thanh đồng, tạo nên sự sống động và chân thực. Nội dung các bài thơ ca rất phong phú, từ ca ngợi công đức của các vị thần, kể chuyện về sự ra đời, hiển linh của các Mẫu, các Chầu, các Quan, cho đến những lời khấn nguyện, ước mong về sức khỏe, tài lộc, bình an.

Sự giao thoa, giao lưu trong phát triển nghệ thuật thơ ca thờ Mẫu ở Bắc Ninh

Ở Chầu văn, âm nhạc, điệu múa, lời ca mang đặc trưng của nghi lễ tâm linh, tín ngưỡng, nên thường được hiểu là một loại hình nghệ thuật chỉ phù hợp với những nơi thờ tự như đình, đền, miếu, hội. Song, đến nay, Chầu văn nhiều khi đã tách khỏi không gian đó để bước lên sân khấu nghệ thuật như một tác phẩm nghệ thuật riêng biệt. Một trong những bài Chầu văn nổi tiếng nhất là “Cô đôi Thượng Ngàn” được nhiều nghệ sĩ, đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp thể hiện. Điều này thể hiện rõ nét trong các buổi biểu diễn văn nghệ, liên hoan dân ca dân tộc….

Điển hình cho sự phát triển và tiếp biến văn hóa trong thờ Mẫu đồng thời bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc đồng bào thiểu số là Đền Chúa Then ở Hương Sơn, xã Lạng Giang do cậu đồng Bùi Quang Lưu xây dựng trong bối cảnh đương đại. Trong quá trình tìm hiểu về Đền Chúa Then, là đền mới xuất hiện khoảng  10 năm trở lại đây đã và đang thu hút nhiều canh hầu đồng, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Hướng tới những giá trị nghệ thuật tại đây sẽ nhận rõ sự giao thoa giữa tín ngưỡng trong thực hành Then và tín ngưỡng thờ Mẫu. Hiện nay tại Đền Chúa Then đã phát triển không gian tín ngưỡng thờ Mẫu với những gian thờ riêng: Thờ Mẫu Liễu Hạnh, Thờ tam phủ, thờ tứ phủ và một tòa riêng thờ bà Chúa Then. Trong không gian kiến trúc tại đây trở thành một điểm du lịch tâm linh để cho khách thập phương. Cũng tại Đền bà chúa Then, cậu Lưu đã sáng tạo khởi phát việc đưa lời, điệu hát then vào hệ thống hát Văn, hầu đồng.

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở giai đoạn này đang có sự giao thoa và phái sinh, phối thờ, dung nạp giữa các tầng bậc nhà chúa. Do đó trong quá trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu hiện nay, cần có góc nhìn mở hơn. Bởi tín ngưỡng là niềm tin vào tôn giáo.

Điều đặc biệt ở Đền Chúa Then chính là sự hòa quyện giữa hai dòng tín ngưỡng là Thờ bà chúa Then và Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ. Trong đó, Tín ngưỡng Then, mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, với các nghi lễ, bài hát Then độc đáo, thể hiện mối liên hệ giữa con người và thế giới thần linh qua các ông Then, bà Then. Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ nổi bật với nghi lễ hát chầu văn và hầu đồng, là một phần quan trọng của văn hóa tâm linh người Việt.

 Thơ ca trong hát văn không chỉ là phương tiện truyền tải thông điệp tâm linh mà còn là một hình thức nghệ thuật độc đáo, thể hiện sự sáng tạo và tinh thần của người Việt. Cần tổ chức những cuộc trao đổi trên truyền thông sâu sắc hơn về giá trị thơ ca của thờ Mẫu ở địa phương cũng như nhiều vùng miền khác trên đất nước giúp nhân dân thêm hiểu biết để cùng  gìn giữ và phát huy giá trị của thơ ca thờ Mẫu, không chỉ là bảo tồn một di sản văn hóa mà còn là gìn giữ một phần bản sắc tâm linh, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam.

                                                          Quách Thị Nga – Khoa Nghệ thuật

Trả lời

Please enter your comment!
Please enter your name here