Các cụ vẫn dặn “Tháng Giêng ăn nghiêng bồ thóc” như vừa nhắc nhở chúng ta đức tính tiết kiệm vừa phản ánh đúng nét tính cách cần kiệm từ ngàn xưa của người Việt. Từ Huế trở ra, tập trung nhiều trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ ven sông Hồng, Sông Thái Bình, Sông Cầu, sông Đuống là những miền phù sa trù phú quanh năm xanh ngắt hoa mầu từ nông sản như: ngô, khoai, rau bốn mùa đến chuối tiêu, chuối lá xanh thăm thẳm qua mưa, qua nắng… Thế nhưng, cứ giêng hai, khi trống hội rộn ràng khắp làng trên xóm dưới, bãi bồi được cầy ải phơi những hạt đất thấm phù sa nâu đỏ dưới nền trời mưa xuân xám bạc đám trẻ con lại rộn ràng đi kiếm rau khúc về cho bà, cho mẹ thổi nồi xôi khúc ăn lúc mưa xuân lành lạnh.
Rau khúc, không phải thứ rau bốn mùa đều có như rau muống, rau cải, nó là loài rau dại, cánh xòe tròn như bông hoa cúc, phủ trên mặt lá là những sợi lông tơ mảnh xanh lục, mặt dưới của lá lại là lớp lông tơ mỏng manh trắng như sương. Rau khúc có 2 loại, khúc thường và khúc nếp. Khúc thường không có mùi thơm đậm đà như khúc nếp, thân cứng, dai. Khúc nếp thơm lắm, lá dầy, thân giòn, làm xôi khúc là ngon nhất. Thế nhưng, bọn trẻ con chúng tôi lại thích bỏ nắm khúc thân cao, hoa nụ tím tím vào mồm nhai thật lâu để ra miếng “kẹo cao su” phiên bản đồng bằng Bắc Bộ. Thế nên, mùa giêng hai, sau giờ học, khắp làng trên xóm dưới là tiếng trẻ con í ới gọi nhau đi kiếm rau khúc về vừa để người lớn nấu xôi khúc vừa để nhai thành miếng kẹo cao su mềm mềm, dẻo dẻo.
Mẹ tôi thường bảo, xôi khúc cũng là một món ăn từ thời Lang Liêu đấy. Chiếc bánh gói trọn tinh hoa trời đất trong gạo, trong đỗ, trong thịt, trong lá khúc. Là biểu tượng của trời tròn đất vuông, là cả 4 mùa no ấm, ngọt ngào, sung túc. Làm bánh khúc không kỳ công như bánh chưng nhưng cũng nhiều công đoạn. Cũng là hạt gạo nếp được ngâm kỹ cho mềm, vớt ra để ráo nước, một phần cho vào cối xay nhỏ thành bột nếp, một phần được dùng để bao quanh chiếc bánh khúc đã nặn để đồ lên thành Xôi khúc. Trong chiếc bánh khúc, có trời, có đất ở hạt gạo nếp mùa mẹ trữ từ tháng 10 dùng làm bánh chưng ngày tết còn thừa. Hạt đậu xanh cũng trữ từ sau vụ Hè Thu, làm bánh chưng, chè kho chưa hết, mang ra lăn vỡ, ngâm kỹ, đãi vỏ và đồ nhuyễn. Ngày hội làng, những chú lợn còi tết chưa được thịt thì mang ra thịt nốt nên miếng ba chỉ tươi roi rói, thái con chì ướp chút mắm, chút tiêu cho dậy mùi rồi trộn với đỗ đã đồ nhuyễn. Những lá rau khúc thơm ngát, tươi non được giã kỹ, cho nước vào chuyển mầu xanh thẫm như rêu thì từ từ đổ vào chỗ bột nếp đã xay nhồi kỹ. Thành quả thu được là một khối bột xanh thẫm như mầu trời lúc chính thu. Từ khối bột đó, chia nhỏ thành những viên bánh vừa ăn, ấn dẹt bọc lấy nhân đậu xanh đã quết với thịt ba chỉ hầm chín mềm thơm nức mùi hành khô, nước mắm và hạt tiêu. Từng viên bánh lại được lăn qua gạo nếp đã ngâm căng mọng như nhộng ong rồi nhẹ nhàng đặt vào chõ hấp. Hấp bánh cũng vui lắm, ngoài trời mưa xuân cứ lây rây, lành lạnh nhưng trong gian bếp nhỏ, củi lửa nổ tanh tách, nồi nước sôi ùng ục, hạ lửa, cho chõ hấp lên, phủ kín và để liu riu lửa cho nước sôi lăn tăn chừng 45 phút là mùi xôi khúc tỏa ra thơm tận đầu ngõ.
Người lớn, trẻ nhỏ ra hội làng về, đi ngang thấy mùi xôi khúc lại càng muốn về nhà nhanh hơn. Xúm xít quanh nồi xôi khúc, lũ trẻ háo hức chờ mẹ, chờ bà chia cho viên xôi tròn xoe trên lá chuối, rắc chút muối lạc lên, thế là ăn ngon lành rồi chìm vào giấc ngủ trưa.
Giêng Hai lại về, những bãi bồi ven sông vẫn còn những đám rau khúc xanh non mơn mởn trong luống thì là, luống xà lách, chỉ có đám trẻ năm đó đã lớn khôn và mải miết với cuộc đời. Đôi khi nghe tiếng rao: Ai bánh khúc nào mà cứ bồi hồi nhớ về ký ức xa xưa. Chiếc bánh khúc mẹ làm lúc Giêng Hai vẫn thơm tho, bùi ngậy đến tận bây giờ…

Trần Ái Vân – Khoa Thể thao và Du lịch






