Ảnh hoạt động
3.toa dam.jpg
2.toa dam.jpg
1.toa dam.jpg
giay khen gds2016.jpg
gvg1.jpg
Liên kết

cong_thong_tin_bg.jpg

congbao_cp.jpg

congbaobg_done.jpg

sovhttbacgiang.png

Thống kê truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay12
mod_vvisit_counterHôm qua89
mod_vvisit_counterTuần này538
mod_vvisit_counterTuần trước994
mod_vvisit_counterTháng này2835
mod_vvisit_counterTháng truớc3979
mod_vvisit_counterTất cả283626
Đang online
Hiện có 1 khách Trực tuyến
 Quay về Home Tin tức & Sự kiện Tin hoạt động trường Tận dụng những ưu đãi của tự nhiên trong kiến trúc nhà ở người Việt cổ truyền

Tận dụng những ưu đãi của tự nhiên trong kiến trúc nhà ở người Việt cổ truyền

  Trong văn hóa đảm bảo đời sống thì bên cạnh yếu tố ăn, mặc, đi lại, yếu tố nhà ở là một nhu cầu thiết yếu của loài người nói chung và người Việt cổ truyền nói riêng có gốc gác từ nhu cầu sinh lý, sinh học. Song, đây cũng là một thành tố của văn hóa, phản ánh được một phần bản sắc cá nhân - gia đình - làng xóm, vùng miền, quốc gia dân tộc. Trong nền văn minh của người Việt, hai yếu tố trội là văn minh sông nước và văn minh thực vật. Nếu như trong ăn uống, người Việt chủ yếu sử dụng trong bữa ăn những sản vật sản suất tại chỗ dễ kiếm tìm của nền văn minh ấy thì trong kiến trúc nhà cửa, yếu tố thực vật cũng có dấu ấn vô cùng đậm nét đối với người Việt cổ truyền. Có thể nói rằng không có một công trình kiến trúc nhà cửa nào mà lại không có yếu tố thực vật được tận dụng từ điều kiện tự nhiên ưu đãi để trở thành một bộ phận quan trọng hợp thành ngôi nhà của người Việt. Đặc biệt, người Việt vùng châu thổ sông Hồng là một minh chứng tiêu biểu cho việc tận dụng những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà cửa đảm bảo giữ nguyên dáng dấp một môi trường sống của cộng đồng, gần gũi, hòa quyện với thiên nhiên.

  Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức không gian cư trú của cư dân. Trong quá trình định cư, việc tổ chức không gian cư trú đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc sống con người. Không gian cư trú không chỉ đơn giản là ngôi nhà, mà còn hơn thế nữa, là cả một khoảng không gian bao la bao bọc xung quanh ngôi nhà đó, con người không chỉ bó hẹp đời sống trong khuôn viên ngôi nhà của mình mà nhiều sinh hoạt của họ còn được diễn ra thường xuyên trên các không gian công cộng. Như vậy, không gian cư trú của con người đã trải dài từ ngôi nhà (không gian cư trú của một gia đình) đến làng xóm (không gian cư trú của cộng đồng). Lối cư trú đề cao sự hòa hợp với thiên nhiên, đề cao tính cộng đồng luôn được coi trọng đối với người Việt cổ truyền. Không gian cư trú truyền thống của người Việt bao giờ cũng gắn liền với môi trường thiên nhiên. Con người đã đối phó và tận dụng thiên nhiên qua các giải pháp xây dựng và tổ chức không gian trong nhà, ngoài nhà.

  Môi trường tự nhiên là yếu tố quan trọng, từ đó con người hình thành nên môi trường sống của bản thân. Môi trường tự nhiên có quan hệ gắn bó, mật thiết lâu đời với con người Việt Nam nói chung và không gian cư trú nói riêng. Căn nhà luôn có xu hướng ẩn mình vào trong thiên nhiên và lấy thiên nhiên làm tiêu chuẩn. Những ngôi nhà, những xóm làng trải dài, lan tỏa và hòa tan cùng với thiên nhiên, ngôi nhà chỉ là một chấm nhỏ trong khoảng không gian thiên nhiên bao la vô tận ấy.

  Thiên nhiên có tác dụng chi phối đến kiến trúc nhà ở và không gian cư trú thông qua bàn tay sáng tạo của con người. Lối kiến trúc mộc mạc với những ngôi nhà truyền thống thiên về chất liệu tự nhiên đã thể hiện sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người, trong mối quan hệ với thiên nhiên, con người luôn đóng vai trò trung gian giữa thiên nhiên và kiến trúc.

  Trong khuôn viên nhà ở truyền thống của mỗi gia đình bao gồm một chuỗi không gian: nhà chính, nhà phụ, vườn cây, ao cá, chỗ chăn nuôi gia cầm, gia súc, sân phơi... trong toàn bộ không gian rộng lớn. Bên cạnh việc ứng phó linh hoạt với môi trường ngập lụt, người dân nơi đây cũng có nhiều cách khắc chế môi trường nắng nóng rất hiệu quả khi xây dựng nhà cửa. Một thành công trong kiến trúc nhà ở truyền thống Việt Nam đó là việc người dân biết cách sử dụng vật liệu tự nhiên sẵn có để đối phó với khí hậu nóng bức. Khi không có những nguồn vật liệu xây dựng bền chắc thì họ có thể tận dụng tối đa những gì sẵn có trong thiên nhiên. Nhà là nơi diễn ra những sự kiện trọng đại của một vòng đời như: sinhhôntử. Từ đó, ngôi nhà không chỉ có ý nghĩa đối với gia đình mà còn mang ý nghĩa cộng đồng xã hội, không chỉ là nhu cầu về vật chất là để trú ngụ nắng mưa, ngủ nghỉ, mà còn đáp ứng nhu cầu tâm linh.

  Nhà ở của người Việt cổ truyền xuất hiện sớm và có nhiều kiểu dáng khác nhau nhưng có thể nói kiểu nhà khá phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ có bố cục hình thước thợ, thường là 3 gian, 2 chái. Số lượng gian và chất liệu để làm nhà tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình, hay điều kiện môi trường thiên nhiên xung quanh nơi gia đình sinh sống. Ngôi nhà người Việt được kết cấu đăng đối, vì là số lẻ nên gian chính giữa bao giờ cũng dành làm nơi thờ cúng và tiếp khách. Sự sắp xếp trong một ngôi nhà người Việt cũng cho thấy sự thiên lệch vị trí giữa nam và nữ, chỗ ngủ của đàn ông trong gia đình ở các gian chính, còn chỗ sinh hoạt và nghỉ ngơi của phụ nữ là ở các chái bên cạnh, có nơi gọi là buồng hoặc ở nhà ngang, nhà phụ.

  Người Việt có quan niệm “đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”, nên gian chính là bộ mặt của chủ nhà, lại là nơi thờ cúng của tổ tiên nên được bài trí hết sức công phu so với các gian bên cạnh. Có nhiều nhà gian chính được trang trí với các mô típ hoa văn trên các cột, vì kèo bằng gỗ hết sức khéo léo và tinh vi, đó là những mảng trạm khắc được thu nhận từ thiên nhiên vào trong ngôi nhà người Việt truyền thống. Trong ngôi nhà phần được chú ý và quan tâm nhiều hơn cả chính là bàn thờ vì chịu ảnh hưởng của Đạo Phật nên bàn thờ được đặt vào chính giữa của gian chính, xung quanh được trang hoàng bằng các hoành phi câu đối, nếu gia cảnh của chủ nhà có khiêm nhường hơn thì bàn thờ cũng luôn được đặt vào nơi trang trọng nhất.

  Ngôi nhà người Việt truyền thống là nơi sinh sống không phải chỉ của một hay hai thế hệ mà nó được truyền qua nhiều thế hệ từ lớp ông bà đến lớp con cháu… cứ thế tiếp nối. Ngôi nhà có thể tồn tại vững chắc vài trăm năm, nên việc dựng một ngôi nhà được người Việt hết sức quan tâm, từ khâu chọn nguyên liệu đến khâu xem ngày, xem tháng, so tuổi vì họ quan niệm thứ nhất là cơ nghiệp của nhiều đời, thứ hai đó là sự thịnh vượng hay suy vong của cả gia đình hay lớn hơn là cả một dòng họ nếu không chọn được ngày tốt và hướng tốt. Do vậy ngôi nhà người Việt là sự kết tinh của tâm sức, ý chí, tập trung công sức, tiền của cả gia đình. Ngôi nhà người Việt còn thể hiện được cái khéo léo, tài hoa của người thợ Việt Nam. Ngôi nhà của người Việt truyền thống cũng thể hiện vô cùng đậm nét yếu tố dung hòa, gần gũi với môi trường thiên nhiên nơi họ sinh sống.

  Kiến trúc nhà ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ xưa khá giống nhau, đó là những ngôi nhà một tầng đơn sơ, nền làm sát mặt đất, vật liệu chủ yếu là tranh tre, nứa lá, rơm rạ. Khuôn viên nhà gồm: qua cổng đến vườn cây, vào đến sân rồi mới đến nhà chính, nhà phụ, nhà bếp, khu vệ sinh, chuồng nuôi gia súc, trâu bò, vườn sau ao trước, hàng rào cây bao quanh, bên ngoài bao bọc bởi lũy tre làng... tạo nên mô hình sinh thái khép kín vườn - ao - chuồng. 

  Ngôi nhà người Việt thường được xây dựng bằng các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương như: lá, tranh, tre, gỗ đẽo, đá kê nền cột, đất sét nung hoặc không nung, bùn trộn rơm,… phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện kinh tế của từng gia đình. Tài nguyên xứ sở đã nuôi dưỡng tập quán xây dựng của người Việt. Để làm nhà dựng cửa, trước là khai thác trên rừng sau là người ta trồng cây lấy gỗ, tre, luồng, giang, mây, nung vôi, đóng gạch, ép ngói… Người dân thôn quê nói: “có trăm tre, nhăm nhe làm nhà”, là có ý nhấn mạnh thứ vật liệu quan trọng nhất, đủ làm nên bộ khung nhà truyền thống.

  Khí hậu vùng châu thổ sông Hồng được chia thành 4 mùa khá rõ rệt, thời tiết nóng về mùa hè, lạnh giá trong mùa đông nên khi làm nhà ở, người Việt đặc biệt quan tâm tới kiểu kiến trúc cũng như nguyên liệu để xây nhà, dựng cửa. Nhà tranh tre nứa lá mát về mùa hạ ấm về mùa đông, dẻo dai chịu đựng gió bão, mưa ngàn. Khắp miền thôn quê đâu đâu cũng sẵn tre nứa. Tre ngâm độ sáu tháng - một năm dưới bùn ao, vớt lên mềm dễ uốn vặn, để khô đi chống mối mọt tốt. Lại có thể luộc mây tre, chẻ lấy lạt rồi gác bếp cho khói xông. Cao cấp hơn tre là gỗ. Đinh, lim, sến, táu, vàng tâm là những hạng gỗ rừng lý tưởng nhưng số lượng không nhiều nên chủ yếu dùng để xây cất những công trình có ý nghĩa tôn nghiêm, trang trọng như: đền miếu, đình chùa, cung điện. Trong dân gian thì phổ thông là xoan, mít, chò, keo, hồng sắc, bạch đàn… Người thôn quê xưa có tính lo xa: khi dựng vợ cho con trai, bao giờ cũng gây sẵn bụi tre, hàng xoan hay vài gốc mít nơi trước sân, mép vườn, bờ ao. Nhắm chừng 10 -15 năm sau con cái có vật liệu làm nhà mới, vừa vặn thời gian chuyển đổi thế hệ nông trang. Xoan cao cây thân dài và thẳng, đoạn dưới làm cột, đoạn trên làm xà, kèo, hoành, bậu. Gỗ xoan thấm sẵn nhựa đắng, chịu được mối mọt, được dùng phổ biến hơn cả - “Nhà gỗ xoan – quan ông nghè”. Nguyên liệu dùng để lợp mái căn nhà cũng sớm được người xưa quan tâm tìm kiếm hoặc chế tác cho ngôi nhà khung tre gỗ, sao cho thích hợp với độ dốc mái và sự phân chia các tấm mái, tầng mái. Đó có thể là rơm, rạ hay lá cọ (lá gồi) lá mía, lá dừa, cỏ tranh, phên nứa, cói bổi…tùy từng vùng miền mà chọn lựa những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên. Chẳng hạn, nhà lợp cói (thông dụng ở Thái Bình) chống dột rất tốt. Trong nhà luôn mát mẻ vì các lớp sợi cói qua thời gian dính kết lại thành tấm xốp liền. Sau mỗi lần lợp chừng 5 năm, khi cói xẹp xuống người ta lại phủ lên trên mái cũ một lớp cói nữa. Cứ thế lớp mái cói có thể dày từ 0,3m – 0,5m. Vùng trung du nhiều đồi cọ như Phú Thọ thì mái lợp nhà chủ yếu được tận dụng từ những tán lá cọ… Cao cấp hơn, người ta xẻ gỗ thành ván mỏng để lợp… Người Việt cũng sớm biết tới kỹ thuật làm gạch ngói bằng đất nung với nhiều loại khác nhau. Gạch nung và gốm: Gạch đất nung dùng xây nhà thì có nhiều loại. Ngoài loại chữ nhật thường còn có gạch hộp kích thước lớn và nhẹ; gạch múi bưởi để cuốn vòm, xây cổng; gạch thước thợ; gạch hình tròn, đa giác; gạch có mộng dùng bó vỉa, gạch rộng bản nung già lát nền nhà đại khoa, gạch lá nem lót dưới ngói lợp…

  Khi biết nung gạch làm nhà, cũng là lúc người Việt biết nung ngói lợp. Ngói lợp nhà phong phú không kém: ngói ri, ngói âm dương, ngói hình vảy rồng, ngói uyên ương cong hình lòng máng, ngói mũi hài đơn, mũi hài kép, ngói chiếu (miếng lợp phẳng) còn gọi là ngói bản … Cư dân vùng châu thổ sông Hồng trước đây (những năm 80 của thế kỷ XX) vẫn còn có thói quen tự đóng gạch bằng đất sét, cắt ngói bằng tay rất thủ công để đủ mẻ lò nung chuẩn bị nguyên liệu làm nhà ngoài những cây cối sẵn có đã chuẩn bị trước từ lâu.

  Thông thường, khi có ý định xây cất một ngôi nhà, gia chủ thường đã tính toán kỹ lưỡng khối lượng nguyên vật liệu cần sử dụng. Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ấm, lượng mưa lớn, cây cối xanh tốt quanh năm. Nhà nào cũng có sẵn vườn xoan, búi tre cạnh vườn hay bờ ao cạnh nhà. Họ cho đốn những cây xoan già năm tuổi, những cây tre đực, thẳng, cao đem ngâm dưới ao nhà mình, nhà nào không có ao sẽ xin ngâm nhờ ao hàng xóm vì trước đây, ao hồ của người Việt rất sẵn. Đủ ngày tháng, tre, gỗ được vớt lên chuẩn bị cho việc xây cất ngôi nhà mới.

  Tùy điều kiện kinh tế từng gia đình, phong tục tập quán từng vùng hay đơn giản là cùng một người thợ, một hiệp thợ mà với đồ lề thổ mộc khác đi thì nhà cửa  họ dựng lên cũng khác đi rất nhiều. Tuy nhiên, dù có nhiều điểm khác nhau tùy từng vùng, từng hiệp thợ thì nhìn chung, để thích ứng với điều kiện tự nhiên và lối sống truyền thống thì, ngôi nhà của người Việt truyền thống châu thổ sông Hồng cơ bản vẫn có những điểm chung sau: Để chống nóng về mùa hè, chống lạnh về mùa đông, hướng chính của nhà thường được chọn hướng Nam, đến Đông Nam - “vợ hiền hòa, nhà hướng Nam”. Quanh nhà trồng nhiều loại cây lá to như chuối, mít ở mặt Bắc để ngăn gió lạnh vào mùa đông và cản bức xạ mặt trời vào mùa hè, trồng cây có thân cao như cau ở phía nam của nhà vừa để làm đẹp cho nhà vừa để thoáng mát cho gió nam thổi vào nhà khi mùa hè cũng như không che ánh nắng chiếu vào nhà khi mùa đông - “Chuối đằng sau, cau đằng trước”. Ngôi nhà thường được làm 3 gian, 2 chái. Ba gian chính không ngăn thành buồng mà tạo thành một không gian lớn linh động để sử dụng cũng như tạo sự thoáng mát cho ngôi nhà. Hai chái nhà thường được dùng làm phòng ở của phụ nữ hoặc dành cho con cái mới lập gia đình mà chưa có điều kiện làm nhà riêng.

  Ngôi nhà người Việt truyền thống thường có một hàng hiên rộng phía trước nhà mang nhiều chức năng như: tiếp khách, ăn cơm, để thóc lúa, ngô hay đỗ lạc ngày mùa…Đây cũng là không gian phục vụ cho việc hiếu hỉ, tiếp khách ngày lễ hội kết hợp với không gian trong nhà và sân. Qua phần hiên để vào nhà hầu như nhà nào cũng treo những tấm liếp hay mành để che nắng, che mưa, giảm ánh nắng chói vào nhà. Mành hay liếp cũng chủ yếu được làm từ nguồn nguyên liệu sẵn có trong vườn nhà như tre, nứa… Theo lối kể của tác giả Đào Duy Anh thì nếp nhà xưa của người nhà quê, kể hạng trung bình trở xuống thì đều làm bằng vật liệu thổ sản như cột kèo bằng tre gỗ, nhất là gỗ xoan, là những thứ có thể lấy trong vườn, trong làng, mái nhà thì lợp bằng rơm ở ruộng. Những vật phải mua ở ngoài là mây, nứa, cót…

  Quá trình xây dựng nhà ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ xưa là sự tích lũy vốn sống ngàn đời của người nông dân, nhà cửa của họ khi xây dựng phải phù hợp với môi trường thiên nhiên, nương nhờ vào thiên nhiên tạo nên một hệ sinh thái bền vững. Để tạo không gian mát lành cho ngôi nhà, người xưa đã biết sử dụng tán cây, trồng những giàn cây leo quanh nhà. Việc trồng cây quanh nhà, tạo thành vườn, làm hoa viên, ngoài chức năng tạo bóng mát, cải tạo khí hậu, trang trí… người ta còn tính đến việc khai thác giá trị kinh tế. Khuôn viên vườn thường có quy mô nhỏ gồm nhiều loại cây, rau. Người nông dân tận dụng thời gian nông nhàn tăng gia sản xuất, trồng hoa màu cung cấp thêm nguồn thực phẩm và nhu cầu khác cho gia đình khi mà việc trồng lúa theo mùa vụ không đủ bảo đảm nhu cầu cho cuộc sống. Cây trồng trong vườn gồm nhiều loại có giá trị cho cuộc sống thường ngày của người Việt: loại cây tạo nguồn thực phẩm rau màu, cây ăn quả, cây gia vị, cây phục vụ nghi lễ, cây làm thuốc…
  Như vậy, cách ứng xử với các yếu tố thiên nhiên cho thấy khả năng thích ứng và chủ động của người dân vùng châu thổ sông Hồng trong ứng phó và tận dụng thiên nhiên khi xây dựng không gian cư trú, thể hiện sự hòa hợp hoàn toàn với thiên nhiên. Đây cũng là kinh nghiệm đúc rút qua nhiều năm, nhiều thế hệ của cư dân nơi đây, tạo nên nét kiến trúc độc đáo trong việc xây dựng không gian đời sống văn hóa gắn với cảnh sắc và con người, tạo nên biểu tượng về văn hóa làng quê Việt. Nhà ở dân gian truyền thống Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử, qua bao đổi thay của xã hội vẫn giữ được những nét văn hoá, bản sắc và đặc điểm riêng của dân tộc mình. Ngày nay, dưới tác động của đô thị hoá cũng như sự phát triển của xã hội, văn hoá truyền thống và nhất là kiến trúc nhà ở truyền thống đang bị mai một dần, có nguy cơ sẽ biến mất. Thay thế vào đó là những ngôi nhà bê tông cốt thép nhiều tầng, vững chắc nhưng vô cảm, nặng nề… làm mất đi vẻ đẹp thanh bình vốn có của làng quê Việt.            
  Vấn đề đặt ra là, quá trình phát triển của đô thị hoá cần được xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng và quản lý chặt chẽ nhằm kiểm soát được sự biến động ở các vùng nông thôn. Những đặc trưng kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống phải được giữ gìn, bảo quản, tôn tạo và phát triển để làm giàu thêm kho tàng văn hóa kiến trúc dân tộc, nhưng vẫn phù hợp với xu hướng của thời đại.

                                                Trần Ái Vân – Khoa LLCS,NVVH&DL

Lần cập nhật cuối (Thứ tư, 24 Tháng 1 2018 10:06)

 
Chuyên nghành

ÂM NHẠC SÂN KHẤU

MỸ THUẬT

                         

 LÝ LUẬN CƠ SỞ-NGHIỆP VỤ VĂN HÓA

THỂ DỤC-THỂ THAO

Tìm kiếm
Thông tin cần biết
Quảng Cáo