Ảnh hoạt động
3.toa dam.jpg
2.toa dam.jpg
1.toa dam.jpg
giay khen gds2016.jpg
gvg1.jpg
Liên kết

cong_thong_tin_bg.jpg

congbao_cp.jpg

congbaobg_done.jpg

sovhttbacgiang.png

Thống kê truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay34
mod_vvisit_counterHôm qua44
mod_vvisit_counterTuần này1628
mod_vvisit_counterTuần trước1055
mod_vvisit_counterTháng này3907
mod_vvisit_counterTháng truớc2739
mod_vvisit_counterTất cả259228
Đang online
Hiện có 1 khách Trực tuyến
 Quay về Home Tin tức & Sự kiện Tin hoạt động trường Giới thiệu sơ lược về ngôi đình trong môn học nghiên cứu vốn cổ chuyên ngành năng khiếu mỹ thuật

Giới thiệu sơ lược về ngôi đình trong môn học nghiên cứu vốn cổ chuyên ngành năng khiếu mỹ thuật

       Trong chương trình đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp chuyên ngành năng khiếu mỹ thuật thì môn học nghiên cứu vốn cổ có học trình số tiết ít mà lượng kiến thức thì nhiều, tài liệu về môn học gần như không có. Vì vậy học sinh chỉ được làm quen và hiểu sơ lược về môn học và phạm vi nghiên cứu. Bài mang tính chất bổ sung tư liệu tham khảo này chắc cũng giúp ích phần nào cho học sinh tìm hiểu về kiến trúc cổ của ngôi đình – nơi gắn kết mảng  mỹ thuật phù điêu chạm khắc dân gian được giới thiệu trong môn học…

Ở các làng xã Việt Nam gần như làng nào cũng có một ngôi đình. Ở Bắc Giang đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa) xuất hiện từ rất sớm cùng với đình Tây Đằng (Hà Tây) đã mang dấu ấn riêng biệt về kiến trúc cổ.

       Đình là nơi sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa của cộng đồng. Đình còn là nơi nghỉ ngơi dừng chân của vua hoặc quan lớn đi vi hành, tuần du. Đình là nơi hội họp bàn soạn công việc và là nơi thờ cúng Thành hoàng. Nếu chùa là nơi dùng nhân nghĩa trị dân thì đình là nơi dùng pháp trị đối với dân, là nơi thực thi lệ làng truyền lệnh trên như: thu thuế, xét xử, khao vọng… Những lễ tiết, hội hè, điền xướng đều diễn ra ở đình và sân đình. Đình là cả một tập thể kiến trúc mở chứ không khép kín như chùa. Nội ngoại thất của đình được trang trí nguy nga nhưng bình dân có những bức chạm khắc làm nao lòng cả giới nghiên cứu mỹ thuật trong và ngoài nước ví dụ như đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa), đình Nội (Tân Yên) đình Phù Lão(Lạng Giang) đình Thổ Hà (Việt Yên) …

       Đình được dựng lên bằng nhiều cột gỗ cao to và dài. To như cái cột đình. Câu ví  Bao giờ cây cải làm đình là chỉ cái điều không bao giờ có thể xảy ra được. Sân đình thường rất rộng. Có bể nước mưa, nối tiếp là các bậc đá lát thềm và thềm. Vào đình gồm ba gian dài và hai gian hồi. Gian chính giữa gọi là chính tẩm bên trong đặt bệ thờ có đặt bát hương, đỉnh trầm, cây nến, bài vị Thành hoàng, lọ lộc bình cắm hoa, sau bệ thờ là Hậu cung đặt tượng Thành Hoàng ngồi trên ngai sơn son thiếp vàng. Những ngôi đình cổ thường có sàn lát gỗ theo các cấp cao thấp khác nhau, đến nay gần như không còn (đình Vường thuộc xã Liên Chung – Tân Yên – Bắc Giang còn lưu giữ sàn gỗ dạng này). Mái đình được lợp bằng ngói mũi hài( vẩy cá). Những ngôi đình cổ xưa được lợp bằng ngói Âm Dương viên nọ ốp chồng lên viên kia rủ nhau bò lên nóc cao, kéo lên bốn góc cong vút với những ngọn đao bay bổng thanh thoát. Ngói Âm Dương còn gọi là ngói cuộc đời đến nay không thấy ngôi đình nào còn nữa thay vào đó là ngói mũi hài kéo lên cao vút với những ngọn đao bay bổng được trang trí khỏe mạnh.

       Mọi việc lớn nhỏ được giải quyết ở đình do một hội đồng Kỳ Mục điều khiển. Lý trưởng là thành viên cao nhất trong việc chấp pháp. Vai vế cao hơn Lý trưởng là ông Tiên chỉ - ông là người đứng đầu một làng, xã thường là người có danh vọng, nhiều chữ nghĩa và được mọi người kính trọng. Tiên chỉ ngồi riêng một mình một chiếu ở đình, nếu vị nào có cỡ khoa bảng cao hơn thì được ngồi chiếu trên của Tiên chỉ.

  Ngày trước người ta rất chú ý đến việc chọn hướng làm đình và trồng những cây to nhỏ tạo cảnh quan. Nói về hướng đình ở Bắc Giang có ngôi đình Nội (xã Việt Lập – Tân Yên) còn có một truyền thuyết về nghĩa quân của Hoàng Hoa Thám trong một đêm đã chuyển hướng 180 độ ngôi đình này cho nhân dân trong vùng. Người dân nào cũng có một mảnh hồn gắn bó với ngôi đình : Qua đình ngả nón trông đình, đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu, hoặc như: Trúc xinh trúc mọc bên đình, em xinh em đứng một mình cũng xinh… Sân đình thường có những cây cổ thụ như xanh, si, đại, táo, đa… Thị Mầu trong Chèo Quan Âm Thị Kính nói thẳng: “ Anh như táo rụng sân đình, em như gái dở đi rình của chua”

       Đình thờ Thành Hoàng được gọi là Thánh.Thành hoàng có thể là Tổ sư ngành nghề,  người có công với dân làng, là Liệt nữ anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Phùng Hưng hoặc các vị tướng từ thời tộc Hùng Vương nhưCao Sơn – Quý Minh… hoặc chỉ là một con người bình dân, di vật được cho là linh thiêng như hòn đá… Những năm trước Cách mạng tháng Tám đình là nơi đi lại hoạt động của một số chiến sỹ Cách mạng. Sau năm 1945 đình là nơi luyện quân, tuyển quân, tổ chức những cuộc họp mặt hoặc Mít tinh kêu gọi mọi người hưởng ứng phong trào yêu nước, cũng là nơi tập trung tiễn đưa con em ra tiền tuyến đầy xúc động. Làng quê Việt Nam xưa có hai âm thanh thật đặc biệt dư ba trong tâm thức mỗi người không thể quên mỗi khi đi xa : đó là tiếng chuông chùa và tiếng trống đình.

       Bắc Giang hiện còn giữ lại được nhiều ngôi đình cổ to lớn và hoành tráng tiêu biểu cho sự ra đời rất sớm của kiến trúc đình cổ (đình Lỗ Hạnh), Cho nền nghệ thuật chạm khắc trang trí đặc sắc đậm chất dân gian (đình Phù Lão, Thổ Hà, đình Nội), đình còn hệ thống sàn gỗ được phân chia cao thấp theo thứ bậc (đình Vường )… Đó là những di sản văn hóa vô giá của Bắc Giang.

Đình làng – Một vang vọng máu thịt của tâm hồn Việt Nam    

Vũ Công Trí (Khoa mỹ thuật)

                                

Lần cập nhật cuối (Thứ năm, 28 Tháng 9 2017 14:56)

 
Chuyên nghành

ÂM NHẠC SÂN KHẤU

MỸ THUẬT

                         

 LÝ LUẬN CƠ SỞ-NGHIỆP VỤ VĂN HÓA

THỂ DỤC-THỂ THAO

Tìm kiếm
Thông tin cần biết
Quảng Cáo